Những Điều Cần Biết Về Ung Thư Dương Vật

23/02/2019 10:05

Ung thư dương vật tuy không phổ biến bằng những căn bệnh khác của nam giới nhưng cực kỳ nguy hiểm bởi có thể gây vô sinh hoặc buộc phải cắt bỏ bộ phận sinh dục nếu không phát hiện sớm và chữa trị đúng cách. Sau đây là 6 thông tin bạn cần phải biết về bệnh ung thư dương vật.

Ung thư dương vật tuy không phổ biến như các bệnh ung thư tuyến tiền liệt, ung thư phổi hay đại trực tràng – những bệnh có tỉ lệ mắc phải cao đối với nam giới. Tuy nhiên, ung thư dương vật có thể xảy ra đối với bất cứ ai và gây ra nguy hiểm không kém các bệnh lý khác. Và 70-80% trường hợp bị ung thư dương vật phải cắt bỏ do tế bào ung thư lan rộng, phát hiện ở giai đoạn quá muộn.

 

Những người không cắt bao quy đầu, có sùi mào gà ở dương vật, có xét nghiệm HPV dương tính, hoặc nếu từng thấy một vùng bất thường trên dương vật, thì dưới đây là 6 điều cần biết.

1. Ung thư dương vật có thể xảy ra với bất kỳ ai

Ở Mỹ, do có hệ thống chăm sóc sức khỏe khá tốt vì vậy mà tỉ lệ mắc bệnh ung thư dương vật chiếm tỉ lệ phần trăm ít hơn các bệnh ung thư khác. Ngược lại, các nước đang phát triển và chưa phát triển, những quốc gia này không có nguồn lực chăm sóc sức khỏe đầy đủ, vì vậy mà tỷ lệ chẩn đoán ung thư dương vật có thể đạt tới 10 đến 20% trong tổng số ca ung thư.

2) Không cắt bao quy đầu và phơi nhiễm với HPV là những yếu tố nguy cơ chính.

Ung thư dương vật gần như không gặp ở những nam giới đã cắt bao quy đầu. Nam giới còn nguyên bao quy đầu có nguy cơ gần gấp đôi. Điều này có thể một phần do tình trạng hẹp bao quy đầu, trong đó bao quy đầu khó tuột lên hoàn toàn. Một yếu tố nguy cơ khác là tiền sử sùi mào gà, thường là hệ quả của nhiễm HPV, vi-rút gây ung thư phổ biến nhất gây sùi mào gà và thường là nguồn gây ung thư biểu mô tế bào vảy của dương vật (cũng như ung thư cổ tử cung ở phụ nữ). HPV có thể được phát hiện trong 30-50% số trường hợp ung thư biểu mô dương vật.

Đặc biệt khi không được vệ sinh thường xuyên, vùng da bao quy đầu có thể trở thành một khu vực nguy hiểm, nơi các vi-rút có hại, như HPV hoặc HIV, trú ngụ và nhiều khả năng được các tế bào miễn dịch đưa đi. Ví dụ, các bác sĩ đã quan sát thấy ý nghĩa sức khỏe quan trọng của cắt bao quy đầu trong giai đoạn đầu của kỷ nguyên HIV, khi mà các nước có truyền thống cắt bao quy đầu báo cáo tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn nhiều so với những nước không có truyền thống này.

3) Ung thư dương vật thường được chẩn đoán ở người lớn tuổi

Nam giới từ 60 tuổi trở lên là nhóm tuổi có nguy cơ mắc phải ung thư dương vật cao nhất, trong khi tỉ lệ mắc phải ở giới trẻ rất thấp. Kết quả này cũng đến từ việc trong thời gian trước đây người dân không được tiếp xúc nhiều đến các kiến thức sức khỏe khiến tỉ lệ cắt bao quy đầu không cao, dẫn đến phần trăm mắc phải ung thư cao hơn nhóm trẻ.

4) Triệu chứng phổ biến

Bạn cần chú ý tới những phát triển bất thường đối với dương vật như: đau, vết loét lâu liền điều trị kháng sinh dai dẳng không đỡ, vết bạch sản, mụn cóc. Nếu có các tổn thương này, bạn  nên đến các cơ sở y tế chuyên khoa để được khám, chuẩn đoán chính xác.

Hầu hết trong các trường hợp mắc bệnh không hẹp bao quy đầu. Dấu hiệu đầu tiên là da dương vật dày lên và thay đổi màu sắc, tiếp theo là xuất hiện loét không đau hoặc phát triển thành u, đặc biệt ở quy đầu và bao quy đầu, cũng có khi ở thân dương vật. Các tổn thương này hầu hết không gây đau. Một số trường hợp thì xuất hiện như ban hơi đỏ hoặc thẫm màu, mảng nhỏ giòn, rát phẳng màu nâu xanh nhạt.

Với trường hợp có hẹp bao quy đầu thì các dấu hiệu thường bị che lấp khó chuẩn đoán sớm. Giai đọan đầu, u nhỏ thường kín đáo, ngứa do viêm nhiễm kéo dài, chảy dịch hôi điều trị nội khoa không khỏi. Khi đến khám phải mở bao qui đầu mới thấy u với đặc điểm u dễ chảy máu, rất hôi. Giai đoạn muộn thì dương vật có hình lắc chuông hay hình dùi trống.

Khi bệnh  ở giai đoạn muộn, u có thể lan rộng gây bít tắc niệu đạo, bệnh nhân có thể bí đái hoàn toàn hoặc khó đi tiểu, có thể kèm theo các triệu chứng của viêm nhiễm đường tiết niệu như đái buốt, đái dắt, đái máu hoặc sờ thấy hạch bẹn một bên hay cả hai bên. Hạch có thể di động hoặc cố định.

Các triệu chứng lâm sàng trên có giá trị gợi ý cho bệnh nhân và thầy thuốc hướng tới chuẩn đoán ung thư dương vật và cần thiết phải làm xét nghiệm chuẩn đoán mô bệnh học để khẳng định chắc chắn. Các xét nghiệm cận lâm sàng như chẩn đoán hình ảnh giúp đánh giá trước mổ, giai đoạn bệnh. Cụ thể: siêu âm ổ bụng xem có di căn hạch và các tạng ổ bụng không; chụp X quang phổi đánh giá tình trang xem có di căn phổi không; chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ và một số xét nghiệm khác khi cần thiết để xác định tình trạng lan rộng của khối u, các tổn thương di căn nếu có.

Đánh giá giai đoạn trước điều trị rất quan trọng, điều đó sẽ quyết đinh cách chữa trị áp dụng trên từng bệnh nhân cụ thể. Ngoài ra các xét nghiệm cận lâm sàng khác như đánh giá chức năng gan, thận, hệ tạo huyết và một số cơ quan khác giúp hỗ trợ phương pháp điều trị như phẫu thuật, tia xạ và hóa chất.

Chẩn đoán giai đoạn tuỳ theo mức độ lan rộng của khối u, di căn hạch và tình trạng di căn xa, người ta chia thành các giai đoạn 0, 1, 2, 3 và 4.

 

5) Điều trị có thể phải cắt bỏ một phần hoặc toàn bộ dương vật

Tại Mỹ, ung thư dương vật được phát hiện ở giai đoạn chữa khỏi ở khoảng 80-90% số trường hợp. Chiến lược điều trị thường bắt đầu bằng sinh thiết mô dương vật để xác nhận sùi, ban hoặc tổn thương đó có thể là gì. Dựa vào đó, bệnh nhân thường được phẫu thuật theo một trong hai cách: cắt dương vật bán phần, nếu ung thư được phát hiện sớm; hoặc cắt dương vật hoàn toàn, nếu bệnh được phát hiện muộn hơn.

Mục tiêu của cắt dương vật bán phần là duy trì chiều dài dương vật, cho phép bệnh nhân đi tiểu đứng - nếu không thì tốt hơn là cắt bỏ toàn bộ dương vật. Hóa trị tại chỗ cũng được sử dụng khi cố gắng bảo vệ dương vật.

Trong trường hợp phải cắt bỏ hoàn toàn, thì thủ thuật tiếp theo sẽ là mở niệu đạo ngoại vi, trong đó các bác sĩ sẽ đưa đường thoát nước tiểu ra phía sau bìu của bệnh nhân, nhờ đó bệnh nhân có thể đi tiểu khi ngồi. Trong một số trường hợp, các bác sĩ sẽ mổ tạo hình dương vật, một thủ tục phẫu thuật thẩm mỹ phức tạp, sử dụng cơ từ những nơi phận khác của cơ thể bệnh nhân, như cẳng tay hoặc chân của mình, để tạo ra một dương vật mới.

Khi có nguy cơ di căn, mức độ điều trị tiếp theo là bóc toàn bộ hạch bạch huyết vùng bẹn để loại trừ nguy cơ ung thư lan rộng. Thủ thuật này có thể dẫn đến nguy cơ phù chân vĩnh viễn, gọi là phù bạch huyết.

6. Kiểm tra sức khỏe định kỳ

ung thu duong vat elle man 7

Nếu bệnh ung thu dương vật được sớm chẩn đoán và phát hiện ở thời gian đầu thì khả năng hồi phục cực kỳ cao. Tuy nhiên, nếu bệnh tình đã phát triển cực nặng và có nguy cơ di căn thì cơ hội chữa trị sẽ giảm đi ngày càng thấp. Chúng ta nên tái khám định kỳ trước khi các dấu hiệu của bệnh ung thư phát tán để có được một kết quả sức khỏe tốt nhất. Bạn cũng nên trang trị cho mình những kiến thức về các loại bệnh thường xảy ra ở nam giới cũng như chú ý tới các dấu hiệu bất thường xảy ra trong cơ thể để hỗ trợ chẩn đoán cũng như can thiệp sớm trước khi quá muộn.

Điều trị

Phẫu thuật: Phẫu thuật là phương pháp điều trị cơ bản và hiệu quả. Ung thư dương vật giai đoạn sớm thì chỉ cần cắt bỏ u và bảo tồn dương vật, với ung thư giai đoạn muộn thì phải cắt cụt dương vật và vét hạch bẹn 2 bên.

Điều trị tia xạ: Khi bệnh giai đoạn sớm cần điều trị bảo tồn hoặc xạ ngoài khi di căn hạch bẹn, tia xạ triệu chứng chống chèn ép, chống đau khi bệnh ở giai đoạn muộn, u hạch xâm lấn rộng.

Điều trị hóa chất: Bôi hóa chất tại chỗ cho những ung thư tại chỗ và những tổn thương tiền ung thư (kem 5-FU). Điều trị hóa chất toàn thân thì chỉ định hóa chất tiền phẫu với ung thư phát triển nhanh, độ mô học cao, u có kích thước lớn giúp thu nhỏ khối u làm cho phẫu thuật thuận lợi hơn. Hóa chất toàn thân có thể phối hợp với tia xạ điều trị triệu chứng kéo dài thời gian sống thêm khi bệnh nhân ở giai đoạn không phẫu thuật được.

Tiên lượng: Kết quả điều trị bệnh phụ thuộc rõ rệt vào giai đoạn bệnh ban đầu được chuẩn đoán, bệnh càng được chuẩn đoán sớm càng có tiên lượng tốt. Nếu được chuẩn đoán khi khối u còn nhỏ, chưa có di căn hạch và di căn xa thì tỷ lệ chữa khỏi là 95%.

Sau khi kết thúc điều trị bệnh nhân được theo dõi định kỳ, đến bệnh viện khám lại 3 tháng một lần trong 2 năm đầu, 6 tháng một lần trong 3 năm tiếp theo. Sau đó, người bệnh khám lại hằng năm. Các bác sĩ sẽ khám lâm sàng và làm một số xét nghiệm cần thiết để chuẩn đoán bệnh tái phát nếu có.

Phòng bệnh

- Kiểm tra bao qui đầu cho trẻ từ khi trẻ còn nhỏ, nếu có hẹp bao quy đầu nên cắt bao qui đầu bị hẹp càng sớm càng tốt.

- Giữ gìn vệ sinh cá nhân, bộ phận sinh dục.

- Quan hệ tình dục an toàn: chung thủy một vợ một chồng, sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục.

- Tiêm vacxin phòng HPV type 16,18.

- Không nên hút thuốc lá.

Thong ke